Thông dịch-Phiên dịch

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Xuân Dương (trang riêng)
Ngày gửi: 00h:44' 29-10-2009
Dung lượng: 105.0 KB
Số lượt tải: 2
Người gửi: Bùi Xuân Dương (trang riêng)
Ngày gửi: 00h:44' 29-10-2009
Dung lượng: 105.0 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
THÔNG DỊCH-PHIÊN DỊCH
----------------
Trong Nam, to interpret là thông dịch. còn ngoài Bắc là phản dịch 1 . Chữ phản ở đây giống như chữ phản trong phản ảnh, tiếng Nam, hay phản ánh, tiếng Bắc. Phản dịch không hề hàm ý như trong câu tiếng Pháp Traduire, c`est trahir -- dịch tức là phản, vì chữ phản trong sau này có cùng nghĩa với chữ phản trong phản bội hay phản trắc. Phải dài dòng như thế vì thông dịch hay phản dịch rất phức tạp, khó khăn và rắc rối. Thông dịch hay phản dịch, nghĩa là dịch miệng, nói ra bằng lời ngay, tuy tiếng Anh không mấy phân biệt giữa interpretation và translation 2. Tiếng Việt dùng chữ phiên dịch để chỉ các bài dịch được viết ra hay in ra.
Trong văn chương Việt Nam, phiên dịch đã có từ lâu lắm 3. Suốt một ngàn năm bị Tàu đô hộ, người Việt Nam học chữ Nho, tức là chữ viết của Tàu từ thời Khổng Tử và các môn đệ của Ngài. Nhưng dần dần người Việt đọc chữ Nho theo âm Việt, thành ra khi Việt Nam đạt đến thời kỳ tự chủ, sứ giả Việt Nam chỉ có thể bút đàm với quan lại người Tàu, nghĩa là viết ra giấy thì hiểu nhau được, còn nói thì khác hẳn âm với nhau. Dần dần người Việt kiện toàn chữ Nôm, là thứ chữ dựa trên chữ Nho, nhưng được đơn giản hóa phần nào để dùng chỉ các âm tiếng Việt, từ đó có sự phiên dịch từ chữ Nho ra chữ Nôm, mà trong văn chương gọi là diễn Nôm. Như Chinh phụ ngâm khúc do ông Ðặng Trần Côn viết bằng chữ Nho, bà Ðoàn Thị Ðiểm dịch ra chữ Nôm thành Chinh phụ ngâm khúc diễn Nôm.
Bà Ðoàn Thị Ðiểm có thể được xem như tổ ngành phiên dịch vì bản dịch của bà rất sát với bản chính, lột hết ý nghĩa, tình tiết, mà văn rất trôi chảy, khi đọc không hề biết là văn dịch. Bà lại không nệ theo đúng mẫu bản chính, mà vẫn lột được tinh thần cũng như tư tưởng của tác giả. Tám câu đầu bản chính và hai khổ song thất lục bát do bà Ðoàn Thị Ðiểm diễn Nôm (dịch ra) vừa sát nghĩa, vừa tràn đầy thi vị:
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề
Thùy tạo nhân.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẵm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Cổ bề thanh động Trường thành nguyệt
Phong vũ ảnh ám Cam Toàn vân
Cửu trùng án kiếm khử dương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Toàn mờ mịt thức mây,
Chín tầng, gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
. Một người có tài phiên dịch nữa là Nguyễn Du. Trong truyện Kiều, đoạn Thúy Kiều khảy đàn cho Kim Trọng nghe khi tái hợp sau mười lăm năm lưu lạc, tác giả đã dịch bốn câu trong bài thơ Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn:
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Thục đế đan tâm thác đỗ quyên,
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền khí noãn ngọc sinh yên.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh ?
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên ?
Trong như châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm như hạt ngọc Lam điền mới đông.
Một áng văn dịch tuyệt vời nữa là bản dịch bài thất ngôn trường thiên Tỳ Bà Hành từ nguyên tác chữ Nho của Bạch Cư Dị ra chữ Nôm. Ông Phan Huy Vịnh đã khéo léo dùng 22 khổ song thất lục bát để dịch đúng 88 câu của nguyên tác, vừa sát nghĩa, vừa đầy thi vị, lại giữ đúng y nguyên số câu và số chữ. Khổ thứ hai dịch câu năm đến câu tám trong nguyên tác:
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong qui, khách bất phát.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông dằm vẻ gương trong.
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi.
không gò ép, không dư, cũng không thiếu. Nhất là câu thứ bảy, giữa khoảng trời nước mênh mông, mà biến
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh !
thành một câu diễn được cái đột ngột, bất chợt, nhưng không có chút nào ngập ngừng, lạc lõng :
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Dịch giả lại chuyển thành thái độ, lời kể trong nguyên tác mà không làm lạc ý :
Chủ nhân vong qui, khách bất phát
nghĩa đen là "
----------------
Trong Nam, to interpret là thông dịch. còn ngoài Bắc là phản dịch 1 . Chữ phản ở đây giống như chữ phản trong phản ảnh, tiếng Nam, hay phản ánh, tiếng Bắc. Phản dịch không hề hàm ý như trong câu tiếng Pháp Traduire, c`est trahir -- dịch tức là phản, vì chữ phản trong sau này có cùng nghĩa với chữ phản trong phản bội hay phản trắc. Phải dài dòng như thế vì thông dịch hay phản dịch rất phức tạp, khó khăn và rắc rối. Thông dịch hay phản dịch, nghĩa là dịch miệng, nói ra bằng lời ngay, tuy tiếng Anh không mấy phân biệt giữa interpretation và translation 2. Tiếng Việt dùng chữ phiên dịch để chỉ các bài dịch được viết ra hay in ra.
Trong văn chương Việt Nam, phiên dịch đã có từ lâu lắm 3. Suốt một ngàn năm bị Tàu đô hộ, người Việt Nam học chữ Nho, tức là chữ viết của Tàu từ thời Khổng Tử và các môn đệ của Ngài. Nhưng dần dần người Việt đọc chữ Nho theo âm Việt, thành ra khi Việt Nam đạt đến thời kỳ tự chủ, sứ giả Việt Nam chỉ có thể bút đàm với quan lại người Tàu, nghĩa là viết ra giấy thì hiểu nhau được, còn nói thì khác hẳn âm với nhau. Dần dần người Việt kiện toàn chữ Nôm, là thứ chữ dựa trên chữ Nho, nhưng được đơn giản hóa phần nào để dùng chỉ các âm tiếng Việt, từ đó có sự phiên dịch từ chữ Nho ra chữ Nôm, mà trong văn chương gọi là diễn Nôm. Như Chinh phụ ngâm khúc do ông Ðặng Trần Côn viết bằng chữ Nho, bà Ðoàn Thị Ðiểm dịch ra chữ Nôm thành Chinh phụ ngâm khúc diễn Nôm.
Bà Ðoàn Thị Ðiểm có thể được xem như tổ ngành phiên dịch vì bản dịch của bà rất sát với bản chính, lột hết ý nghĩa, tình tiết, mà văn rất trôi chảy, khi đọc không hề biết là văn dịch. Bà lại không nệ theo đúng mẫu bản chính, mà vẫn lột được tinh thần cũng như tư tưởng của tác giả. Tám câu đầu bản chính và hai khổ song thất lục bát do bà Ðoàn Thị Ðiểm diễn Nôm (dịch ra) vừa sát nghĩa, vừa tràn đầy thi vị:
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề
Thùy tạo nhân.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẵm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Cổ bề thanh động Trường thành nguyệt
Phong vũ ảnh ám Cam Toàn vân
Cửu trùng án kiếm khử dương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Toàn mờ mịt thức mây,
Chín tầng, gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
. Một người có tài phiên dịch nữa là Nguyễn Du. Trong truyện Kiều, đoạn Thúy Kiều khảy đàn cho Kim Trọng nghe khi tái hợp sau mười lăm năm lưu lạc, tác giả đã dịch bốn câu trong bài thơ Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn:
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Thục đế đan tâm thác đỗ quyên,
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền khí noãn ngọc sinh yên.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh ?
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên ?
Trong như châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm như hạt ngọc Lam điền mới đông.
Một áng văn dịch tuyệt vời nữa là bản dịch bài thất ngôn trường thiên Tỳ Bà Hành từ nguyên tác chữ Nho của Bạch Cư Dị ra chữ Nôm. Ông Phan Huy Vịnh đã khéo léo dùng 22 khổ song thất lục bát để dịch đúng 88 câu của nguyên tác, vừa sát nghĩa, vừa đầy thi vị, lại giữ đúng y nguyên số câu và số chữ. Khổ thứ hai dịch câu năm đến câu tám trong nguyên tác:
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong qui, khách bất phát.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông dằm vẻ gương trong.
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi.
không gò ép, không dư, cũng không thiếu. Nhất là câu thứ bảy, giữa khoảng trời nước mênh mông, mà biến
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh !
thành một câu diễn được cái đột ngột, bất chợt, nhưng không có chút nào ngập ngừng, lạc lõng :
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Dịch giả lại chuyển thành thái độ, lời kể trong nguyên tác mà không làm lạc ý :
Chủ nhân vong qui, khách bất phát
nghĩa đen là "
 






Các ý kiến mới nhất